top of page

TƯ NGUYÊN (思原)

Aug 22
2 min read

Trong tiếng Trung, “Tư” (思) có nhiều nghĩa mà thông dụng và phổ quát nhất là “nghĩ”, “nghĩ ngợi”, “suy nghĩ”. “Tư” cũng là “nhớ”, “nhớ nhung”, “hoài niệm”, “tưởng niệm”.


“Nguyên” (原) vừa là động từ, vừa là danh từ và cũng mang vô số nghĩa, trong đó, thông dụng nhất là “bắt nguồn ở”, “phát sinh từ” hay “nguồn”, “gốc rễ”.


“Tư nguyên” khi đứng cùng nhau thì "tư" là động từ, còn "nguyên" là chủ thể, danh từ. “Tư nguyên” là "nghĩ về nguồn cội", là "nhớ về nguồn".


“Tư nguyên” mình đang trích dẫn là vế sau của một thành ngữ bốn từ (Tứ tự thành ngữ): “Ẩm thủy tư nguyên” (飲水思源).


“Ẩm thủy” (飲水) là cách nói và viết trong văn chương chỉ hành động “uống nước”. “Ẩm thủy tư nguyên” chính là “Uống nước nhớ nguồn”, một thành ngữ thân thương trong tiếng Việt.

Nếu truy điển tích của “Ẩm thủy tư nguyên” có thể các bạn sẽ gặp một dị thể khác của thành ngữ này “Ẩm thủy tri nguyên” (飲水知 源, “uống nước biết nguồn”) hoặc nhiều hơn. Tuy vậy, là dị bản nào đi nữa thì chúng đều bị phủ lên sắc màu chính trị.


“Uống nước nhớ nguồn”, với cách dùng của người Việt, may thay lại rất trung dung vì chẳng ẩn chứa bất kỳ tầng nghĩa sâu xa (hay xấu xa) nào khác. Người Việt mình chỉ muốn nhắn nhủ một cách giản đơn rằng khi thụ hưởng thành quả, hay nhận ân tình từ một người nào khác, hãy nhớ về người đó, biết ơn người ta và thường niệm như khi mình uống nước thì nên nghĩ hoặc nhớ về nguồn.


“Nhớ nguồn” là cách dùng hay nhất của “tư nguyên”. “Nhớ” cũng là cách thể hiện sự tri ân nhiều nhất thay vì “tri” tức là chỉ “biết”. Biết rồi sẽ có lúc quên nhưng nhớ thì luôn còn đó, hiện hữu, trường tồn.


Ảnh từ Internet.
Ảnh từ Internet.


Lâm Nguyễn.

Recent Posts

See All
TỨ THẬP

Khổng Tử từng nói: "𝐓𝐮̛́ 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐩 𝐧𝐡𝐢 𝐛𝐚̂́𝐭 𝐡𝐨𝐚̣̆𝐜" (四十而不惑) đ𝑒̂́𝑛 𝑡𝑢𝑜̂̉𝑖 𝑏𝑜̂́𝑛 𝑚𝑢̛𝑜̛𝑖 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑐𝑜̀𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑖 ℎ𝑜𝑎̣̆𝑐 𝑛𝑢̛̃𝑎. Hôm nay mình tròn bốn mươi. Bốn n

 
 
 

Comments


Post: Blog2_Post

Subscribe Form

Thanks for submitting!

©2021 by Lam Nguyen. Powered by Wix.com

bottom of page