top of page

CHARTER

Aug 18
3 min read

Có những từ thoạt nghe tưởng chỉ là khái niệm hành chính khô khan. Thế nhưng, nếu có lòng yêu và sự kiên nhẫn truy nguyên, từ lịch sử, từ ngôn ngữ, hoặc kết hợp cả hai, ta sẽ thấy mỗi từ đều mang nơi mình một câu chuyện và rộng hơn, một tư tưởng được gởi gắm lưu truyền.


“Charter” là một từ như vậy.


“Charter” bước vào tiếng Anh từ cái cầu là tiếng Pháp cổ “charte/chartre”. “Charte/chartre” lại mượn từ tiếng Latin “charta/carta”. “Charta/carta”, đến lượt mình, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ khartēs (χάρτης), vốn để chỉ “tấm/phiến papyrus’’. Chúng ta biết rằng papyrus là một loại cói dùng làm nệm, thảm, chiếu và đặc biệt là giấy.


Từ khi có giấy con người có thêm vật liệu để viết những điều họ muốn gìn giữ cho mai sau.

Từ nghĩa ban đầu là “tờ/phiến giấy”, “charter” trở thành “tài liệu viết”, rồi “văn bản xác lập quy phạm”, và cuối cùng là “văn kiện mang tính sáng lập, quyền lực và nguyên tắc”. Trong tiếng Việt ta gọi là “hiến chương” đọc âm Hán-Việt của từ có tự dạng là 宪章 ở tiếng Trung.


宪章 – HIẾN CHƯƠNG


Trong tiếng Trung, chữ “Hiến” (宪) có nhiều nghĩa, nhưng phổ biến nhất là “pháp”, “chuẩn tắc”, “điều ngay thẳng”, “điều được tôn làm chuẩn mực cao nhất”. “Hiến” vốn thuộc về lĩnh vực quy phạm, tức những nguyên tắc “không thể không theo”.


Chữ “Chương” (章) mở cho ta một thế giới khác, là “văn tự viết thành bài, thành thiên”, là “điều lệ”, là “kế hoạch”. “Chương” là “văn bản được sắp đặt trật tự, rõ ràng”.


Khi đứng cùng nhau, “hiến” là bản chất, là chuẩn mực còn “chương” là điều mục, là sự thể hiện ra bằng chữ nghĩa. “Hiến chương” (宪章) vì thế không chỉ là một văn bản. Hiến chương là tập hợp những nguyên tắc được đúc kết và đồng thuận, để con người nương theo mà giữ lấy những điều tốt đẹp.


Thế giới có vô vàn những hiến chương. Trong số đó có một văn kiện dành riêng cho những người làm nghề giáo, “Recommendation concerning the Status of Teachers” (Khuyến nghị về Địa vị Nhà giáo), được UNESCO và ILO thông qua ngày 5 tháng 10 năm 1966, tại Paris.


Dù chỉ là “Recommendations” (Khuyến nghị), văn bản này lại mang tính chất của một hiến chương theo đúng tinh thần của “Charter”/ “宪章”, bởi văn bản này đã


• xác lập chuẩn mực nghề nghiệp cho nhà giáo;

• đề ra các nguyên tắc bảo vệ người thầy;

• làm rõ quyền lợi, phẩm giá và nghĩa vụ của đội ngũ giáo viên trong xã hội hiện đại.


Đây là văn kiện đặt nền móng cho cái nhìn tiến bộ về nghề dạy học, được nhiều quốc gia tham chiếu để xây dựng chính sách giáo dục của họ.


Việt Nam, tự hào thay, không chờ đến ngày hội nhập hay tham gia vào các tổ chức quốc tế rồi mới tôn vinh người thầy.


Từ rất xưa văn hóa Việt đã luôn thể hiện tinh thần tri ân và vẫn thường nhắc nhau “Uống nước nhớ nguồn”. Riêng về giáo dục, không ít người Việt vẫn tin rằng “Nửa chữ cũng là thầy”. Qua nếp nghĩ của người Việt, sự nhớ ơn ấy là một dạng hiến chương bất thành văn.


Khi Hiến chương Nhà giáo quốc tế được biết đến tại Việt Nam, văn bản ấy quyện hòa với truyền thống biết ơn của người Việt mình một cách tự nhiên bởi cả hai cùng hướng đến một giá trị: giáo dục là gốc rễ của sự phát triển và người thầy là phần quan trọng của gốc rễ ấy.


Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, vốn từng mang tên “Ngày Hiến chương các Nhà giáo”, là dịp tri ân, là hoa quà, là lời chúc. Cá nhân mình thì thấy ở ngày này những giá trị mang tính hiến chương mà chúng ta đã thống nhất, đã cam kết và sẽ tiếp tục giữ gìn cho các thế hệ sau.


20/11 không chỉ là ngày hội mà còn là ngày chúng ta nhắc nhau một điều dung dị nhưng mang tính căn nguyên: mọi nền giáo dục đều bắt đầu từ sự trân trọng đối với những người trao truyền, gieo tri thức.


Hiến chương là điều phải nhớ.

Cũng như thế, thầy là những người ta không được lãng quên.


Ảnh từ Internet.

Comments


Post: Blog2_Post

Subscribe Form

Thanks for submitting!

©2021 by Lam Nguyen. Powered by Wix.com

bottom of page