NHẤT TỰ (一 字)
Mình nghĩ “Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy” là cách diễn đạt chưa ổn về mặt từ ngữ vì trong tiếng Việt “nửa chữ” không có, hoặc không cho nghĩa. Có lẽ nhiều người cũng quen với bản Hán – Việt của câu trên: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” thì ổn hơn nhưng bản này cũng đã có sự hiệu chỉnh nghĩa từ điển cố “Nhất tự sư” trong tiếng Trung khi điển cố này “nhập cảnh” nước mình. Còn ai hiệu chỉnh, hiệu chỉnh lúc nào thì mình chịu.
“Nhất tự sư” 一字师 - 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑢̛̃ - là từ điển tích thi tăng (nhà sư thích làm thơ) Tề Kỷ (齊己) thời vãn Đường được thi nhân Trịnh Cốc (郑谷) sửa giúp một chữ trong bài thơ “Tảo Mai” (早 梅 – Mai nở sớm) của ông. Chữ được sửa là chữ “sổ” (數) nằm trong 2 câu sau:
前村深雪里
Tiền thôn thâm tuyết lý
(𝑇ℎ𝑜̂𝑛 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑡𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝑝ℎ𝑢̉ 𝑑𝑎̀𝑦)
昨夜數枝開
Tạc dạ sổ chi khai
(Đ𝑒̂𝑚 𝑞𝑢𝑎 𝑚𝑎𝑖 𝑛𝑜̛̉ 𝑚𝑎̂́𝑦 𝑚𝑎̂́𝑦 𝑐𝑎̀𝑛ℎ).
Trịnh Cốc đề xuất nên sửa chữ “數” (“sổ”: 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑣𝑎̀𝑖, 𝑛ℎ𝑖𝑒̂̀𝑢) thành “一” (“nhất”: 𝑚𝑜̣̂𝑡). Trịnh Cốc lý giải, nếu mai nở nhiều thì không còn là mai nở sớm (“sớm” ở đây là trước so với thời điểm nào đó như trong “đến sớm”, “về sớm” chứ không phải là “buổi sớm/sáng mai”) nữa. Chỉ một cành mai nở sẽ diễn được cái ý hoa mai nở sớm báo hiệu xuân sang khi đất trời vẫn đang chìm trong tuyết mùa đông. Sư Tề Kỷ tiếp nhận góp ý của Trịnh Cốc, sửa thành bản sau:
前村深雪里
Tiền thôn thâm tuyết lý
(𝑇ℎ𝑜̂𝑛 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑡𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝑝ℎ𝑢̉ 𝑑𝑎̀𝑦)
昨夜一 枝開
Tạc dạ nhất chi khai
(Đ𝑒̂𝑚 𝑞𝑢𝑎 𝑚𝑎𝑖 𝑛𝑜̛̉ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐𝑎̀𝑛ℎ).
Sư Tề Kỷ nhận Trịnh Cốc, người đã sửa giúp mình một chữ trong bài thơ, làm thầy.
“Nhất tự sư” (一字师) từ đó để chỉ những người giúp người khác sửa thơ, thường là chỉ chỉnh một chữ đã nâng tầm bài thơ ấy so với bản gốc. Để tránh hiểu nhầm, chữ “之” (chi) được thêm vào thành “Nhất tự chi sư” (一字之师 người thầy một chữ). Vì chữ được sửa trong bài thơ nói trên là chữ “nhất” (一) nên nếu dùng “nhất tự sư” (一字师) vẫn còn cách hiểu nữa là 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑐ℎ𝑢̛̃ “𝑁ℎ𝑎̂́𝑡”. Trong tiếng Trung 一字 (nhất tự) có thể hiểu là “một chữ” (one word) hoặc “chữ Một” (the word “One”).
Nhiều cố sự, điển tích về những “người thầy một chữ” (一字之师) hay “người hiệu chỉnh thơ” như tích trên kể từ sau thời vãn Đường. Thú vị là, về sau xuất hiện thêm “bán tự sư” (半字师 - 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑛𝑢̛̉𝑎 𝑐ℎ𝑢̛̃).
Đời nhà Thanh có một nữ sĩ sống ở Đông Hải làm bài thơ tên “Lam cúc thi” (藍菊詩, 𝑏𝑎̀𝑖 𝑡ℎ𝑜̛ 𝑣𝑒̂̀ ℎ𝑜𝑎 𝑐𝑢́𝑐 𝑚𝑎̀𝑢 𝑥𝑎𝑛ℎ) trong đó có 2 câu:
為愛南山青翠色,
Vị ái Nam Sơn thanh thúy sắc,
(𝑉𝑖̀ 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̉𝑛ℎ 𝑠𝑎̆́𝑐 𝑁𝑎𝑚 𝑆𝑜̛𝑛)
東籬別染一枝花。
Đông ly biệt nhiễm nhất chi hoa.
(𝐺𝑖𝑎̣̂𝑢 đ𝑜̂𝑛𝑔 đ𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑛𝑜̛̃ 𝑛ℎ𝑢𝑜̣̂𝑚 𝑚𝑎̀𝑢 ℎ𝑜𝑎 𝑥𝑎𝑛ℎ).
Cung Vỹ (龚炜), một học giả đương thời nhận xét; nên bỏ bộ “đao” (刂/刀) trong chữ “biệt” (別) để thành chữ “lanh/lánh/linh” (另: 𝑛𝑔𝑜𝑎̀𝑖 𝑟𝑎, 𝑘ℎ𝑎́𝑐). Bản sửa sau đó trở thành:
為愛南山青翠色,
Vị ái Nam Sơn thanh thúy sắc,
(𝑉𝑖̀ 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̉𝑛ℎ 𝑠𝑎̆́𝑐 𝑁𝑎𝑚 𝑆𝑜̛𝑛)
東籬另染一枝花。
Đông ly lánh nhiễm nhất chi hoa
(𝑁𝑒̂𝑛 đ𝑎̃ 𝑛ℎ𝑢𝑜̣̂𝑚 𝑥𝑎𝑛ℎ 𝑐𝑎̀𝑛ℎ ℎ𝑜𝑎 𝑘ℎ𝑎́𝑐 𝑜̛̉ 𝑏𝑜̛̀ 𝑔𝑖𝑎̣̂𝑢 𝑝ℎ𝑖́𝑎 đ𝑜̂𝑛𝑔).
Cung Vỹ muốn diễn đạt ý gia chủ: vì yêu cảnh sắc xanh tươi của Nam Sơn mà người ấy đã nhuộm hoa nơi bờ giậu nhà mình để ngày ngày được ngắm sắc xanh ấy. “Lam cúc” nghĩa là ℎ𝑜𝑎 𝑐𝑢́𝑐 𝑚𝑎̀𝑢 𝑥𝑎𝑛ℎ.
Vậy là, từ chữ “別” (biệt) có 2 phần, bỏ đi bộ “刂/刀” (đao) đứng sau để thành chữ “另” (lánh). Đúng thật là chỉ sửa có nửa chữ. Từ đó xuất hiện thêm “bán tự sư” 半字师 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑦/𝑠𝑢̛̉𝑎 𝑛𝑢̛̉𝑎 𝑐ℎ𝑢̛̃, hay 半字之师 “bán tự chi sư”.
Trước là “Nhất tự chi sư”, sau có thêm “bán tự chi sư”, cả hai đều nói về sự học. Một là sẽ luôn có người giỏi hơn mình, ít nhất là ở mặt nào đó. Qua đó nhắc người học về khiêm nhường và cần có sự trau dồi để tinh tấn. Hai là nhắc người học phải bỏ đi tự ái và sẵn lòng tiếp nhận sự chỉ dạy từ người khác để bản thân mình trở nên tốt hơn. Tiếng Anh có từ cho sắc nghĩa tương đương, “teachable”, 𝑠𝑎̆̃𝑛 𝑙𝑜̀𝑛𝑔 ℎ𝑜̣𝑐 ℎ𝑜̉𝑖.
Nguyên nghĩa là vậy, giờ trở lại hai câu hỏi ban đầu: “Ai hiệu chỉnh?” và “Hiệu chỉnh lúc nào?” điển cố “Nhất tự sư”; câu trả lời vẫn là “mình chịu”. Có điều, mình có thể phỏng đoán “Vì sao hiệu chỉnh”.
Trong tiếng Trung, có một thành ngữ khác nói về lễ thầy, trò: 一日為師, 終身為父 “Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” nghĩa là m𝑜̣̂𝑡 𝑛𝑔𝑎̀𝑦 𝑙𝑎̀ 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑦, 𝑠𝑢𝑜̂́𝑡 đ𝑜̛̀𝑖 𝑙𝑎̀ 𝑐ℎ𝑎. Ví thầy như cha ấy là để nhấn mạnh tầm quan trọng của người thầy đối với học trò. Đây là một phần của “Tam cương” trong Khổng giáo đề cao vai trò cực kỳ quan trọng của ba người: vua, cha, thầy với một cá nhân. Chữ 為 (vi/vị) là một cái gạch nối thú vị và có lẽ là mấu chốt của sự hiệu chỉnh trong tiếng Việt mình từ cách diễn đạt gốc tiếng Trung.
Về mặt phát âm trong tiếng phổ thông (Quan thoại), chữ 為 có hai cách đọc, mỗi cách đọc sẽ cho nghĩa khác nhau:
為 đọc là /wéi/ (Hán-Việt “vi”: 𝑡ℎ𝑖̀, 𝑙𝑎̀, 𝑙𝑎̀𝑚 𝑟𝑎, 𝑡𝑎̣𝑜 𝑟𝑎)
為 đọc là /wèi/ (Hán-Việt “vị”: 𝑏𝑜̛̉𝑖, 𝑑𝑜, 𝑣𝑖̀).
Người xưa, vì hiểu được vai trò của người thầy có lẽ đã hiệu chỉnh “Nhất tự chi sư” thành “Nhất tự vi sư” 一字為 师 /yī zì wéi shī/ để diễn ý m𝑜̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑢̛̃ 𝑙𝑎̀ (𝑛ℎ𝑜̛̀) 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑦”. Sự hiệu chỉnh từ “之” (chi) thành “為” (vi) là ý muốn gởi gắm lòng biết ơn của mình đối với người thầy. Không chỉ một ngày làm thầy, suốt đời là cha, mà 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑢̛̃, 𝑡ℎ𝑎̣̂𝑚 𝑐ℎ𝑖́ 𝑙𝑎̀ 𝑛𝑢̛̉𝑎 𝑐ℎ𝑢̛̃, hay 𝑟𝑜̣̂𝑛𝑔 𝑟𝑎 𝑙𝑎̀ 𝑠𝑢̛̣ ℎ𝑜̣𝑐 𝑐𝑢̉𝑎 𝑚𝑖̀𝑛ℎ, tất thảy đều nhờ ơn thầy.
“Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy” tuy không còn nguyên nghĩa mà cũng mộc mạc hơn nhiều so với bản tiếng Trung nhưng ý nghĩa thì lại sâu và chân thành hơn hẳn.
Ngày nay, người học có thể tự học từ nhiều nguồn, từ nhiều người và việc học cũng như hiểu biết của một người không bị giới hạn bởi kiến thức hay hiểu biết của người thầy. Nhưng cái ân của người trao truyền và lòng biết ơn của người nhận đối với cái ân đó vẫn nên là bất biến thì hơn.
Mong mọi người gặp được nhiều “Nhất tự sư” của riêng mình và sẽ luôn tâm niệm một điều “nửa chữ cũng là thầy”.

Lâm Nguyễn.



Comments